私は去年、働き始めましたが、私の会社の社長は趣味が多い人です。
Tôi bắt đầu làm việc vào năm ngoái, giám đốc của tôi là một người có nhiều sở thích.
社長は去年から歌を習い始めました。
Ông ấy bắt đầu học hát từ năm ngoái.
月に1度、社員を食堂に集め、自分の歌を聞かせます。
Mỗi tháng một lần, nhân viên công ty sẽ tập trung ở nhà ăn và ông hát cho nhân viên nghe.
歌はへたではないのですが、私は聞いていると眠くなってしまいます。
Dù bài hát không dở nhưng tôi nghe thì cảm thấy buồn ngủ.
会社に20年勤めている加藤さんは、社長はバイオリンを習っていた時のほうが大変だったといいます。
Ông Sato, người đã làm việc ở công ty được 20 năm, ông nói rằng lúc giám đốc học chơi vi-ô-lông thì vất vả hơn nhiều.
社長は最近ケーキ作りも始めました。
Dạo gần đây giám đốc bắt đầu học làm bánh ngọt.
家で作ったケーキを会社にもってきて、社員に食べさせます。
Ông mang những chiếc bánh đã làm ở nhà lên công ty cho nhân viên thưởng thức.
おいしいのですが、私は最近太ってしまいました。
Tuy ngon nhưng tôi đã mập lên rồi.
問1:
「私」は社長の趣味について、どのように言っていますか。
Nhân vật "tôi" đã nói như thế nào về sở thích của giám đốc?
1. 月に1度食堂に集められるのが嫌です。
Ghét việc mỗi tháng một lần tập trung tại nhà ăn.
2. バイオリンが下手なので大変です。
Thấy vất vả bởi ông ấy chơi vi-ô-lông dở tệ.
3. ケーキがまずくて、あまり食べられません。
Bánh kem dở nên là không thể ăn được mấy.
4. 歌を聞くと眠くなるので困っています。
Thấy khó xử bởi khi nghe ông ấy hát là buồn ngủ.