コミュニケーション力をはかる基準としては、話す相手が幅広いという基準も挙げることができる。
Một trong những tiêu chuẩn để đo năng lực giao tiếp là tiêu chuẩn "đối tượng tro chuyện phong phú đa dạng".
だれか特定の人間としか話せないとなると、コミュニケーション力は低い。
Trường hợp chỉ nói chuyện được một vài đối tượng đặc thù nào đó thì năng lực giao tiếp thấp.
お母さんとしか話すことのできない子供も、友達としか話せない若者、同年代・同性の仕事仲間としか話せない会社員など、会話の相手の幅が狭い人はコミュニケーションが十分ではない。
Những đứa trẻ chỉ nói chuyện được với mẹ, những người trẻ chỉ trò chuyện được với bạn bè, những nhân viên chỉ giao tiếp được đồng nghiệp cùng lứa tuổi - cùng giới v.v… những người có đối tượng giao tiếp ít ỏi như vậy được gọi là không đủ năng lực giao tiếp.
老若男女と接する機会が多いほど、柔軟なコミュニケーション力が養成される。
Càng có nhiều cơ hội tiếp xúc với nam phụ lão ấu thì năng lực giao tiếp linh hoạt càng được rèn dũa.
幼児とはどんな話をしたらいいのか、二十代の女性とは、五十代の女性とは・・・・・といったように相手によって話題を変えて、会話の糸口を見つけ出していくことができれば、コミュニケーション力は相当高い。
Nếu có thể thay đổi chủ đề theo đối tượng giao tiếp như nếu nói với trẻ nhỏ thì nên nói chuyện thế nào, với nữ giới tầm 20 tuổi thì sao, với phụ nữ tầm 50 tuổi thì sao v.v… và có thể tìm ra đầu mối để dẫn dắt câu chuyện thì có thể nói năng lực giao tiếp đã đạt đến mức khá cao.
もちろん年齢や性別だけでは十分ではない。
Tất nhiên, chỉ tuổi tác và giới tính thôi vẫn chưa đủ.
相手の置かれている社会的な状況や関心事を瞬時に察知して、対話関係を結ぶ。
Cần nắm bắt được ngay tình trạng xã hội của đối phương và những điều họ quan tâm để trò chuyện.
具体的な状況としては、マンションのエレベーターで二人きりになった場面を考えてみよう。
Ví dụ về tình trạng cụ thể, hãy hình dung ra cảnh chỉ có hai người trong thang máy của chung cư.
五歳児と一緒になったときに、「何階まで行くの?」と聞く程度のことは普通だ。
Khi ở cùng với đứa trẻ 5 tuổi, thường người ta sẽ hỏi "cháu muốn lên tầng nào?".
全く一言も交わさずに、過ごすとすれば、コミュニケーションを煩わしく思っていると判断していい。
Nếu hoàn toàn không trao đổi một lời nào thì có thể đoán định được rằng người ấy cảm thấy giao tiếp rất phiền phức.
「どこの幼稚園に行ってるの?」や「今日「ちびまる子ちゃん」やるよね、見る?」といった話題を振ってみることができるかどうか。
Người ta sẽ kiểm tra xem có thử gợi ra các chủ đề nói chuyện như "Cháu học ở nhà trẻ nào" hay "Hôm nay có phim hoạt hình" Nhóc Maruko" nhỉ, cháu có xem không?" v.v… hay không.
本当にうまくやれば、十秒ほどの間でも多少とも、心の通い合う会話を交わすことはできる。
Nếu là người có năng lực giao tiếp tốt chỉ khoảng 10 giây cũng có thể có những cuộc hội thoại ăn ý.
世間話の効用というものがある。
Có một thứ gọi là công dụng của các câu chuyện phiếm.
お天気の話から入り、とりとめもない世間話をする。
Hai bên mở đầu bằng câu chuyện về thời tiết rồi nói các câu chuyện phiếm vu vơ không đầu không cuối.
そうすることで、お互いに素知らぬふりをしているよりは、ずっと気持ちが楽になる。
Bằng cách đó tâm trạng của hai phía sẽ thấy nhẹ nhõm hơn rất nhiều so với việc vờ như không quan tâm đến nhau.
一緒の空間にいて、相手がそこにいることはわかっているのに、あたかも誰もいないかのように振る舞い合うーーーそうした気まずい空気を過ごすよりは、ずっと世間話をして、気持ちを交わし合って別れる。そのほうがずっと気分がいい。
Cùng ở trong một không gian, biết rằng người kia cugnx ở đây mà hành động cứ như thể là không có ai ở đó - thay vì trải qua bầu không khí khó chịu như vậy thì hãy nhanh nhảu nói những câu chuyện vu vơ, giao lưu tình cảm rồi chia tay. làm như vậy lòng sẽ thấy sảng khoái hơn nhiều.
誰とでもすぐに世間話ができる。
Có thể nói chuyện phiếm với bất cứ ai.
これは重要なコミュニケーション力である。
Đó là một năng lực giao tiếp quan trọng.
(斉藤崇『コミュニケーション力』岩波新書より)
(Takashi Saito "Sức mạnh giao tiếp" từ Iwanami Shinsho)
CHECK Q1 この
文章で、コミュニケーション
力が
高い
人とは、どんな
人ですか。
Trong bài văn này, người có năng lực giao tiếp giỏi là người như thế nào?
An
相手によって、
話題を
変えて、
会話の
糸口を
見つけ
出していくことができる
人。
Là người có thể thay đổi chủ đề trò chuyện, phát hiện ra điểm mấu chốt của hội thoại tùy vào đối tượng.
Q2 「
世間話の
効用」にはどんなものがありますか。
Một số “ích lợi của cuộc nói chuyện phiếm” là gì?
An
互いに
無関心な
振りをしているより、ずっと
気持ちが
楽になる。
Tâm trạng của hai phía sẽ thấy nhẹ nhõm hơn rất nhiều so với việc vờ như không quan tâm đến nhau.